don-dang-ky-nhan-hieu

Để sở hữu nhãn hiệu, Quý Khách cần chuẩn bị tốt một đơn đăng ký nhãn hiệu để nộp vào Cục sở hữu trí tuệ; thời gian chuẩn bị thường mất một đến vài tuần là để tìm hiểu các quy định pháp luật liên quan đến nhãn hiệu, thủ tục đăng ký nhãn hiệu, tra cứu nhãn hiệu, đánh giá khả năng bảo hộ nhãn hiệu, đưa ra quyết định nộp đơn đăng ký nhãn hiệu, và chuẩn bị bộ hồ sơ đăng ký nhãn hiệu.

chuyen-don-dang-ky-nhan-hieu

Chuyển đơn đăng ký nhãn hiệu là thủ tục chuyển giao một đơn đăng ký nhãn hiệu đã được nộp vào Cục sở hữu trí tuệ cho một người khác và người này phải đáp ứng các điều kiện mà chủ đơn đăng ký nhãn hiệu đã phải đáp ứng trước đó, lưu ý chuyển giao đơn đăng ký nhãn hiệu là chuyển giao quyền đăng ký nhãn hiệu, không phải là chuyển giao quyền sở hữu đối với nhãn hiệu.

nhan-hieu-la-gi

Nhãn hiệu là một loại tài sản do vậy nó có khả năng mang lại lợi ích nếu được Quý Khách sử dụng một cách hợp lý; tuy nhiên, khác biệt với các loại tài sản khác, nhãn hiệu không đi một mình mà phải luôn gắn liền với sản phẩm, dịch vụ; chính vì vậy mà nhãn hiệu được xem là dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ của Quý Khách với sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự của các đối thủ cạnh tranh.

ho-so-dang-ky-nhan-hieu

Hồ sơ đăng ký nhãn hiệu là tập hợp gồm các tài liệu mà Quý Khách cần chuẩn bị để nộp vào Cục sở hữu trí tuệ, gồm có tờ khai đăng ký nhãn hiệu, mẫu nhãn hiệu đăng ký, giấy phép kinh doanh đối với hộ kinh doanh, giấy ủy quyền đại diện sở hữu trí tuệ đối với trường hợp có đại diện, văn bản chấp thuận của người thứ ba cho phép Quý Khách đăng ký nhãn hiệu tương tự, có khả năng gây nhầm lẫn.

thoi-gian-dang-ky-nhan-hieu

Thời gian đăng ký nhãn hiệu là khoảng thời gian được tính từ khi nộp đơn đăng ký nhãn hiệu cho đến có quyết định cấp hoặc không cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, thông thường trải dài qua 3 giai đoạn bao gồm thẩm định hình thức trong vòng 1 tháng, công bố đơn đăng ký nhãn hiệu trong vòng 2 tháng và thẩm định nội dung đơn đăng ký nhãn hiệu trong vòng 9 tháng, tổng cộng 12 tháng.

giam-dinh-nhan-hieu

Giám định nhãn hiệu là thủ tục yêu cầu cơ quan giám định sở hữu trí tuệ tiến hành xem xét và đưa ra kết luận nhãn hiệu mà đối thủ cạnh tranh đang sử dụng có phải là yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu của Quý Khách hay không, kết luận này là cơ sở vững chắc để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý xâm phạm áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm bảo vệ nhãn hiệu của Quý Khách.

sua-don-dang-ky-nhan-hieu

Sửa đơn đăng ký nhãn hiệu là thủ tục được tiến hành sau khi Quý Khách thay đổi tên hoặc địa chỉ hoặc cả hai tên và địa chỉ trong quá trình kinh doanh, làm cho khác với thông tin tương ứng trên đơn đăng ký nhãn hiệu đã được nộp tại Cục sở hữu trí tuệ; nếu không tiến hành sửa đơn đăng ký nhãn hiệu sẽ có thể xảy ra giao dịch giữa Quý Khách và Cục sở hữu trí tuệ bị gián đoạn và xấu nhất là đơn đăng ký nhãn hiệu có thể bị từ chối cấp giấy chứng nhận đăng ký.

gia hạn hiệu lực nhãn hiệu

Gia hạn hiệu lực nhãn hiệu, gọi tắt của cụm từ gia hạn hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, là việc làm bắt buộc đối với Chủ sở hữu nhãn hiệu vì lý do Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu chỉ có hiệu lực trong một khoảng thời gian nhất định là 10 năm tính từ ngày nhãn hiệu đó được nộp đơn đăng ký vào Cục sở hữu trí tuệ.

Đăng ký nhãn hiệu là quá trình xác lập quyền sở hữu đối với nhãn hiệu, được dùng cho một hoặc nhiều sản phẩm, dịch vụ, cơ bản gồm những giai đoạn sau: (1) Soạn và nộp đơn đăng ký nhãn hiệu tại Cục Sở hữu trí tuệ, (2) Cục Sở hữu trí tuệ thẩm định hình thức đơn đăng ký nhãn hiệu, (3) Cục Sở hữu trí tuệ công bố đơn đăng ký nhãn hiệu, (4) Cục Sở hữu trí tuệ thẩm định nội dung đơn đăng ký nhãn hiệu, (5) Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu.

Hiện nay, trên các phương tiện thông tin và đời sống thường nhật, chúng ta dễ dàng bắt gặp các thuật ngữ như “nhãn hiệu” hay “thương hiệu”. Rất nhiều người có thể bị lẫn lộn giữa hai khái niệm này, tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng bản chất hai thuật ngữ này là khác nhau. Bên cạnh đó, vì đã được luật hóa nên việc đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu được quy định cụ thể trong Luật sở hữu trí tuệ; còn việc bảo hộ thương hiệu thường phức tạp hơn và đòi hỏi các biện pháp tổng hợp.